Nhắc đến chó cảnh, đa số đều cho chung nhận định, husky là loài được nuôi phổ biến nhất. Nó phổ biến đến nỗi mà có nguyên một hiệp hội những người yêu mến husky trên toàn thế giới. Một khảo sát gần đây của Anh quốc thì có đến 72% những người được hỏi trên toàn thế giới đều mong muốn hay đã từng sở hữu một chú chó husky ngáo. Vậy do đâu mà chúng phổ biến đến thế, vì sao ai cũng yêu thích chúng, cùng tìm hiểu về vấn đề này.

Giới thiệu về chó husky

Theo Wikipedia, chó husky có tên khoa học là "Sibirsky hasky", Husky là một giống chó cỡ trung thuộc giống chó có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Sibir, Nga. Về đặc điểm di truyền, chó Husky được phân loại là giống loài Spitz. Chó Husky có hai lớp lông dày, tai hình tam giác và thường có đặc điểm nhận dạng khác nhau trên từng bộ lông của chúng.

Chó Husky là giống chó rất được yêu thích, tổ tiên chúng sống ở một trong những nơi lạnh nhất của vùng Siberia lạnh giá, nơi mà những con chó Husky hoang dã được người Chukchi ở Đông Bắc Á lai tạo với mục đích kéo xe trên một đoạn đường dài trong điều kiện lạnh vô cùng khắc nghiệt. Husky được đưa đến Alaska trong thời kỳ khai thác vàng ở Nome và sau đó trở nên phổ biến tại Hoa Kỳ và Canada. Husky ban đầu được nuôi để trở thành một chú chó kéo xe thuần túy nhưng về sau, theo dòng thời gian, chúng trở thành thú cưng quan trọng trong gia đình..

Cũng có nhiều ý kiến khác cho rằng, Chó Husky là tên gọi chung cho một loại hay nhiều loại chó kéo xe được sử dụng ở các vùng phía bắc Siberi, khác biệt với các loại chó kéo xe trượt tuyết khác bởi chúng rất khỏe và tốc độ kéo xe rất nhanh, có thể đi một đoạn đường dài mà không cần nghỉ. Nhiều nguồn tin không chính thống cho rằng, Husky là một giống chó lai giữ chó nhà và chó hoang , chúng luôn thay đổi cơ thể để thích nghi với điều kiện khắc nghiệp của khí hậu và để trở thành những chú chó nhanh nhất. Ngược lại, Chó Malamute Alaska, họ hàng gần với husky, là giống chó "lớn nhất và lâu đời nhất trong số những con chó kéo xe trượt tuyết tại Bắc Cực"và được sử dụng để chở hàng có tải trọng nặng hơn.

Trong những năm gần đây, các công ty tiếp thị du lịch bằng việc mang lại trải nghiệm cho du khách bằng cách sử dụng chó husky kéo xe trượt tuyết trên các vùng đất , địa hình hiểm trở vùng cực bắc .Ngoài ra, chó Husky còn được nuôi như thú cưng trong gia đình, huấn luyện hỗ trợ các nhóm cứu hộ nhằm tìm kiểm người bị nạn hay đơn giản để vui đùa với các trẻ em trong trên toàn thế giới. Từ Husky bắt nguồn từ đâu

Từ "Husky" có nguồn gốc từ tên gọi của người Inuit ( hay người Eskimo) dành cho thú hoang được thuần chủng, đó là 'huskies', một sự rút gọn lại của từ 'Huskimos'.



Về sau, các thủy thủ Anh tìm ra nơi đây và phiên âm lại thành cái tên đơn giản và phổ biến cho đến hiện nay, Husky. Năm 1908, một đạo luật ra đời công nhận người Inuit là cư dân đầu tiên thuần hóa được Husky và có quyền sở hữu hợp pháp giống chó này đến tận ngày nay mà không cần thông qua bất kỳ giấy tờ nào. Lịch sử về chó husky

Các giống chó Husky Sibir, Samoyed, và Alaskan Malamute đã được công nhận đều có chung nguồn gốc từ một giống chó cổ đại theo kết quả ADN công bố năm 2004.Từ năm 1908, chúng được du nhập vào Alaska trong thời kỳ khai thác vàng và được sử dụng là chó kéo xe và chó đua xe. Trong thời kỳ này, xe kéo là phương tiện gần như duy nhất nên chó Husky nhanh chóng trở thành phương tiện phổ biến lúc bây giờ. Năm 1930, việc xuất khẩu chó ở Siberia bị dừng lại và cũng là năm mà "câu lạc bộ chó giống Mỹ (AKC) công nhận giống chó Husky Sibir là công dân Sibir. Năm 1938, giống chó này lần đầu tiên được đăng kiểm và được cấp giấy phép nuôi dưỡng ở Canada. Năm 1991, tổ chức United Kennel Club công nhận giống chó "Husky Bắc Cực" và đổi tên thành Husky Sibir, cái tên này vẫn được sử dụng cho tới nay.

Giống chó Husky nguyên thủy đầu tiên được nuôi và phối giống bởi người Chukchi và Husky nguyên thủy được cho là đã tuyệt chủng. nhưng một phóng viên của tạp chí "Geographical magazine" vào năm 2006 đã đưa ra báo cáo chúng vẫn còn sống sau chuyến công tác của anh tại Siberia. Dòng dõi chó husky

Những con chó hoang đầu tiên xuất hiện tại châu Mỹ cách đây 12.000 năm TCN vào khoảng thời kỳ Holocen. Tuy nhiên, chúng không định cư ở Bắc Cực, mãi đến 4.500 năm TCN, người Paleo-Eskimo và sau đó là người Thule (xuất hiện 1.000 năm trước TCN) di cư từ Siberia đến châu Mỹ mới mang giống chó hoang được cho là thủy tổ của loài chó husky hiện nay theo. Theo wikipedia, Husky Siberia ban đầu được phát triển bởi người Chukchi ở bán đảo Chukchi ở phía đông Siberia. Chúng được đưa đến Nome, Alaska, vào năm 1908 để phục vụ mục đính kéo xe.



Vào năm 2015, một nghiên cứu sử dụng một số dấu hiệu di truyền đã chỉ ra rằng Siberian Husky, Alaskan Malamute và Alaska husky có mối quan hệ di truyền chặt chẽ với nhau và có liên quan đến những con chó kéo Chukotka từ Siberia . Các bằng chứng cho thấy có sự lai tạo giữa với các giống chó châu Âu với giống chó Bắc Mỹ thời hậu thuộc địa để cho ra đời một giống Husky mới.

Tuy nhiên, một số giống chó Bắc Cực cho thấy sự gần gũi về di truyền với loài sói Taymyr hiện đã tuyệt chủng ở Bắc Á do có sự pha trộn. Những giống chó này có liên quan đến Siberian Husky và Greenland. Điều này cho thấy sự pha trộn giữa quần thể sói Taymyr và tổ tiên của giống chó Hsuky. Nó cũng chỉ ra tổ tiên của các giống chó ngày nay đến từ nhiều vùng khác nhau của bắc cực. Đặc điểm chó husky

Tùy từng vùng khí hậu, điều kiện chăm sóc khác nhau mà các giống husky cũng có những nét khác nhau. Tin tức thú cưng chỉ đề cập đến những đặc điểm cơ bản dễ nhận diện của Husky so với các loài chó khác. Lông của Husky Sibir

Lông của Husky dày hơn đa số lông các giống chó khác trên thế giới. Chúng gồm 2 lớp, một lớp lông dày và ngắn lót phía trong và một lớp lông mỏng hơn, dài hơn bao phủ bên ngoài giúp bảo vệ chúng khỏi cái lạnh khắc nghiệt vùng băng giá. Chúng có thể chịu được cái lạnh từ −50 đến −60 °C (−58 đến −76 °F). Chó husky thay lông thường xuyên, nếu sống cùng con người thì cần chải lông hàng tuần.

Chó Husky Sibir có rất nhiều màu lông khác nhau nhưng hầu hết sẽ có chân, mõm, đốm cuối đuôi là lông trắng. Thường gặp nhất là Husky có màu lông đen-trắng, sau đó là nâu (đỏ)- trắng, xám (phấn) - trắng, trắng, và màu lông hiếm "agouti". Mắt của Husky Sibir

Mắt chó Husky hình quả hạnh nhân đặt cách nhau vừa phải và hơi xếch lên. Các màu mắt đa dạng phổ biến hiện nay như xanh da trời, xanh nước biển, màu hổ phách, xanh lá cây, hoặc nâu. Một số con có thể có 2 mắt với mỗi mắt là một màu khác nhau. Cũng có thể có một hoặc cả hai mắt có màu pha trộn (parti-colored) nửa xanh nửa nâu. Tất cả những màu mắt nêu trên đều được chấp nhận là mắt của Husky "thuần chủng". Mũi của Husky Sibir

Mũi của chúng được xếp theo màu lông, chó lông xám thì mũi có màu đen, lông đen thì có mũi nâu, lông nâu thì có mũi đỏ xẩm, và lông trắng thì mũi màu xám nhạt. Đuôi của Husky Sibir

Đuôi của chó Husky dài và rất rậm lông, chúng thường hay cụp đuôi nếu không có hoạt động, khi chạy nhảy chúng thường uốn cong đuôi lên lưng để cơ thể có thêm độ ấm. Đây cũng là đặc điểm chung của một số giống chó có nguồn gốc từ xứ lạnh như Akita, Alaskan Malamute hay Samoyed. Khi ngủ chó Husky sẽ vòng đuôi qua mõm để giữ ấm cho mũi. Chúng sẽ hạ thấp đuôi khi thư giãn và dựng cong đuôi khi phấn khích hoặc tò mò.

Kích thước của Husky Sibir

Kích thước được xem là thuần chủng của một con Husky đực là cao khoảng 21 và 23 inch (53 và 58 cm) và nặng 45 và 60 pound (20 và 27 kg). Con cái sẽ bé hơn, nó cao khoảng 20 đến 22 inch (51 đến 56 cm) và nặng khoảng 35 đến 50 pound (16 đến 23 kg).